Saturday, April 01, 2006

 

Nguyen Duy Hieu School



Kỷ niệm về trường Nguyễn Duy Hiệu

Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo)

Tôi học ở Nguyễn Duy Hiệu từ năm 1960 đến 1964 (từ lớp đệ thất đến đệ tứ, tương đương cấp II bây giờ). Trường khai giảng năm 1958 nên tôi thuộc khóa thứ ba. Có thể nói nếu không có trường Nguyễn Duy Hiệu hoặc nếu truờng ra đời chậm 4-5 năm, có lẽ con đường học vấn của tôi và nhiều nguời cùng thời ở Điện Bàn phải dừng lại ở bậc tiểu học. Học sinh ở Điện Bàn thời đó hầu hết là con nhà nghèo, đâu có điều kiện để đi Hội An hay Đà Nẵng học. Trình độ học vấn và tuổi tác cũng còn non trẻ không thể đi các thành phố lớn để vừa kèm trẻ tư gia vừa tiếp tục học như là ở cấp III sau này. Vì vậy, đối với tôi, trường NDH là cái mốc quyết định của đường đời mà tôi luôn ghi nhớ với sự biết ơn sâu xa. Nơi đây cũng đã ghi dấu biết bao kỷ niệm đẹp với thầy, với bạn.

Nhà tôi ở gần cầu Bình Long, cách Vĩnh Điện 5 cây số về phía tây. Hai năm đầu phải đi bộ đến trường, mỗi vòng mất một tiếng đồng hồ. Nhiều khi mưa gió, phải lội bùn một đoạn đường dài từ nhà ra đường cái. Nhiều khi đi trên đường nhựa dưới cái nóng thiêu đốt của những ngày trước và sau kỳ nghỉ hè. Tuy nhiên lúc đó không cảm thấy cực nhọc, có lẽ vì cái hạnh phúc được tiếp tục đi học luôn luôn chiếm ưu thế. Thêm vào đó, tôi có người bạn cùng xóm cũng học cùng truờng, rất thân, sớm tối đi về có nhau. Cả hai đều lại thích đọc sách nên trên đường đi học và trên đường về nhà, lúc nào cũng huyên thuyên về các nhân vật trong truyện cổ tích, trong truyện Tàu hoặc trong các tác phẩm của Tự lực văn đoàn.

Các thầy đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Bây giờ tôi vẫn thầm phục trường NDH sao quy tụ được nhiều thầy giỏi như vậy. Các thầy có vốn kiến thức lớn, dạy hay và nhiệt tình với học sinh.

Thầy Phan Đức Thông dạy Pháp văn đạo mạo, nghiêm nghị nhưng rất thương học trò. Khi giảng bài, thầy thường dừng lại đặt các câu hỏi xác nhận học sinh hiểu tới đâu để điều chỉnh nội dung giảng ở phần sau. Khi thầy hỏi về một vấn đề đã giảng ở các tuần truớc, thấy nhiều học sinh giơ tay xin trả lời, thầy lộ vẻ hài lòng: “Có thế chứ !”. Các tiểu thư con gái thầy có tiếng đẹp và học giỏi, nhiều bạn lớn tuổi trong lớp mơ được làm rễ thầy (lúc đó tuổi tác của học sinh chênh lệch nhau nhiều, cùng lớp đệ ngũ, đệ tứ nhưng có anh chị gần 20 tuổi). Tôi nhớ có lần thầy quên cuốn sách giáo khoa ở nhà, có ý muốn nhờ một học sinh đi lấy giúp, thế là có rất nhiều bạn giơ tay xin đi.

Thầy Trần Văn Tường dạy toán và lý hoá, thầy giảng bài rất dí dỏm, dễ hiểu. Tôi có ấn tượng thầy dạy môn gì cũng hay. Có một khoảng thời gian hình như lúc tôi học lớp đệ ngũ, không hiểu vì lý do gì đó mà thầy phụ trách môn quốc văn là lãnh vực không phải sở trường của thầy. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ bài thơ của Phan Lạc Tuyên thầy Tường dùng làm đề tài cho một buổi dạy nọ. Lời thơ rất cảm động, gợi thuơng cảm, diễn tả đúng cảnh nghèo khó của nông thôn miền Trung trong thời kỳ có chiến tranh:

Anh về bên xóm nhỏ
Em chờ dưới bóng dừa
Nắng vàng vươn mái tóc
Chiều quê hương đơn sơ
......
Nhà nghèo không đủ thóc
Vườn nghèo nong tằm thưa
Ngõ buồn mùa hoang loạn
Quê nghèo thêm xác xơ...

(có thể có vài chữ không nhớ chính xác)

Lời giảng của thầy cũng xúc động như lời thơ. Người nghe cảm thấy phải làm gì đó để đem lại thanh bình cho quê hương, giúp quê hương thoát khỏi cảnh nghèo.

Thầy Dương Ngọc Nhuận dạy quốc văn hồi đệ lục cũng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Đây là thời chúng tôi đọc Tự lực văn đoàn nhiều nhất. Thầy dạy 2 lớp đệ lục, thường cho lớp nầy sang lớp kia thuyết trình về một tác phẩm của Khái Hưng hay Nhất Linh, Thạch Lam,... Tôi nhớ có lần lớp tôi sang lớp bạn thuyết trình, hai bên tranh cãi nhau rất hào hứng về hành động của nhân vật Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt. Tôi rất phục tài hùng biện của các bạn. Tôi không có khả năng nầy nên những buổi đó chỉ ngồi nghe. Nhưng trong lớp tôi thường trả lời được các câu hỏi của thầy và lúc nào cũng được điểm cao trong các kỳ thi nên cũng được thầy thương như các bạn hùng biện. Có lần thầy Nhuận nói trong lớp như để động viên những học sinh như tôi: “Giờ quốc văn nầy, có em giỏi thuyết trình, có em giỏi viết, cả hai đều giỏi”.

Thầy Nguyễn Phú Long giảng Kiều rất hay. Thầy biết vận dụng nhiều bài thơ hay khác để minh hoạ tình và cảnh gói ghém trong các câu Kiều. Nhiều câu thơ của Quang Dũng, Đoàn Phú Tứ, Thâm Tâm,... được vận dụng rất tuyệt vào từng bối cảnh. Tôi rất thích. Suốt mấy chục năm sau đó tôi luôn tìm cho được nguyên bản của các bài thơ được thầy trích dẫn để đọc toàn bài. Tập vở ghi chép các bài giảng truyện Kiều của thầy Long tôi rất quý nhưng sau đó rất tiếc đã bị lưu lạc ở đâu mất. Thầy Long cũng là người đưa ra sáng kiến lập tủ sách cộng đồng trong trường. Mỗi giáo viên và học sinh đóng góp một vài cuốn và mỗi lần được mượn sách bằng số lượng mình đóng góp. Đây là một sáng kiến hay, giúp cho học sinh nghèo tiếp cận được với nhiều sách.

Tôi cũng rất say mê học môn số học và hình học của thầy Nguyễn Văn Thành. Đặc biệt chúng tôi hào hứng nhất trong giờ ”toán chạy” của thầy. Sau một bài giảng đến phần ứng dụng, thầy ra đề và cho 20 điểm (điểm cao nhất) cho 5 học sinh giải đáp nhanh nhất, dĩ nhiên là phải đúng. Thế là chúng tôi thi nhau chạy lên bàn thầy nộp bài. Các “góc”, “cạnh” trong giờ hình học của thầy cũng rất sinh động.

Trên đây là những thầy giáo tôi được học nhiều giờ trong tuần và có khi được học trong nhiều năm. Những thầy khác học it giờ hơn nhưng vẫn để lại trong tôi tình cảm quý trọng và bây giờ tôi vẫn còn nhớ tên các thầy: Thầy Nguyễn Văn Dung dạy sử địa và công dân rất mô phạm, thương học sinh (từ năm 1962 thầy được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường công lập, -truờng chúng tôi học là bán công). Thầy Phan Chánh Dinh dạy công dân, giảng bài như diễn thuyết trước đám đông, lôi cuốn chúng tôi quan tâm vào các vấn đề chính trị, xã hội đuơng thời (sau thầy hoạt động cách mạng, ở tù Côn Đảo. Năm 1996 tôi có dịp gặp lại thầy ở Hà Nội). Thầy Đoàn Xuân Phước hình như ở NDH trong thời gian rất ngắn, tôi chỉ học với thầy hồi đệ thất nhưng được thầy thương, thường cho mượn sách đọc. Tôi còn học với các thầy Trần Do, Nguyễn Phú Mỹ, Nguyễn Văn Thuỳ, , Trương Duy Cường, Lê Trọng Nguyễn, Hoàng Phước Lợi, Nguyễn Nho Thoại, Đinh Hối. Có điều là không hiểu sao hồi đó rất ít cô giáo, hình như chỉ có cô Dung dạy sử nhưng lớp tôi không được học với cô.
Tình bạn thời Nguyễn Duy Hiệu cũng để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi và những bạn có nhà ở xa mỗi ngày mang theo cơm nắm muối mè ở lại buổi trưa trong truờng. Chúng tôi có cả mấy tiếng đồng hồ để trò chuyện, từ chuyện thơ văn đến chuyện xã hội. Lúc mưa gió thì ngồi trong lớp, lúc trời đẹp thì ngồi dưới tàng cây trứng cá hoặc dưới bóng các cây phượng trong sân trường, có lúc đi bách bộ sang bên kia cầu Vĩnh Điện, ghé lại hiệu sách Vĩnh Hoà xem có cuốn sách mới nào không. Các cửa hàng khác, dù chỉ là những cửa hàng nhỏ tại một phố rất nhỏ, đối với những học sinh nghèo như chúng tôi thì rất xa lạ, có lẽ tôi chưa bước chân vào bao giờ.

Từ khi vào đệ ngũ, được cha mẹ mua cho chiếc xe đạp, phạm vi giao du với các bạn mở rộng nhanh. Hầu như mỗi chiều thứ bảy nào tôi cũng cùng 5-7 người bạn thân đi chơi nhà nhau, lúc ra gần đến tận Hoà Vang, lúc đi Duy Xuyên, lúc xuống Vĩnh Xuân, lúc lên Bảo An và các miền gần Đại Lộc. Nhiều nơi phaỉ đi đò qua sông, chẳng hạn lúc đến chơi nhà bạn ở làng Cẩm Lậu (xã Phú Phong). Chúng tôi gặp nhau là nói chuyện thơ, văn và ca hát, say mê quên cả thì giờ. Nhiều bạn làm thơ hay, có bạn sáng tác cả nhạc. Tôi không có tài làm thơ hoặc sáng tác nhạc nhưng thích đọc thơ, thích đàn và thích nghe hát. Lúc đó những nhạc khúc ca tụng tình học sinh của Thanh Sơn, Song Ngọc,..., những ca khúc ngợi ca tình quê huơng, tình yêu trong sáng của Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, những bài ca phác hoạ cảnh đồng quê, chuyên chở tình quê mộc mạc nhưng nồng thắm của Hồ Đình Phương, Trịnh Hưng, v.v.. chúng tôi rất ưa thích.

Kỷ niệm về thầy, về bạn ở Nguyễn Duy Hiệu còn nhiều. Để tạm kết thúc, tôi muốn mượn mấy câu trong một bài văn học với thầy Long ngày xưa: “Kỷ niệm buồn không ít mà kỷ niệm vui cũng nhiều, buồn thuở thơ ngây giờ lại thấy vui, vui thuở thơ ngây giờ thấy đẹp muôn vàn”.

Nhớ mãi thầy và bạn truờng Nguyễn Duy Hiệu thân yêu.

Tokyo, 3/5/2003

Thursday, March 30, 2006

 

Cac Ban Than Men,

Tôi là Lê Công Tâm học lớp Đệ Tứ Trường Nguyễn Duy Hiệu - niên khóa 1963-1964 tại Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam. Trang Blog này được lập ra theo gợi ý của bạn Trần Văn Thọ để qua đó chúng ta có thể tìm gặp lại nhau, để ôn lại những kỷ niệm ngày xưa của tuổi thơ, để nói và viết cho nhau nghe những gì muốn nói qua bao năm xa cách, hay ít nhất cũng để thông tin cho nhau về những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống.

Thế hệ chúng ta đã trải qua nhiều cam go thử thách và nay tất cả đều đã quá tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh". Dù đang sống lưu vong tại hải ngọai hay vẫn còn ở quê nhà, tôi tin chắc thế nào cũng có lúc các bạn chợt nhớ đến những kỷ niệm đẹp thời thơ ấu khi chúng ta còn học chung với nhau một lớp dưới mái trường Nguyễn Duy Hiệu. Các bạn có thể muốn tìm lại những người bạn rất thân ngày xưa mà vì thời cuộc và hòan cảnh đã bị mất liên lạc. Trang blog này chính là nơi để các bạn có thể về thăm bạn cũ trường xưa, để phổ biến các bài viết , hay thơ văn của mình, hoặc nêu lên bất cứ ý tưởng gì mà các bạn muốn chia sẻ với bạn bè.

Chúng ta có thể dễ dàng gặp gỡ nhau qua email nếu các bạn tiếp tay với tôi phổ biến trang blog này cho bạn bè cùng lớp. Tôi chỉ muốn dành trang blog này cho lớp chúng ta chứ không muốn cho cả trường Nguyễn Duy Hiệu vì tôi không nhớ và không quen các bạn khác lớp. Bạn nào muốn đăng bài viết, nhắn tin, hoặc thơ văn của mình trên trang này xin gửi email về cho tôi: tam.le11@verizon.net để tôi post lên. Sau đó tôi sẽ cung cấp password để các bạn có thể trực tiếp đăng bài trên trang này mà không cần gửi bài cho tôi trước.

Thân ái chào các bạn,

Lê Công Tâm




This page is powered by Blogger. Isn't yours?